Bệnh Gout hiểu để phòng tránh và điều trị hiệu quả

0

BỆNH GOUT – HIỂU ĐỂ PHÒNG TRÁNH VÀ ĐIỀU TRỊ

BỆNH GOUT LÀ GÌ?

Bạn bị đánh thức đột ngột vào giữa đêm, nguyên nhân là ngón chân cái như bị lửa đốt. Nó nóng rát, sưng phồng, đau đớn và cảm giác nặng nề không thể chịu đựng nổi. Trường hợp này có lẽ bạn đang bị cơn Gout cấp tính (viêm khớp do bệnh Gout).

benh-gout-la-gi

Bệnh Gout, dân gian thường gọi là bệnh gút, hay thống phong, là căn bệnh được biết và mô tả từ thời Hy lạp cổ đại.

Đây là căn bệnh thiên vị đặc biệt: dường như hoàn toàn tha cho quý bà mà chỉ thăm viếng quý ông. Nguyên nhân gây bệnh là tình trạng thừa acid uric (trên 1mg/1ml máu) dẫn đến kết tinh đóng ở các khớp, gây đau. Tuy nhiên, không phải cứ có acid uric cao là bị bệnh Gout. Nếu chỉ có acid uric cao đơn thuần thì chỉ được gọi là tình trạng tăng acid uric máu không triệu chứng. Bệnh Gout chỉ xảy ra khi tình trạng tăng aicd uric máu gây hậu quả xấu cho cơ thể.

CÁC THỂ BỆNH GOUT

Gout có 2 thể bệnh là Gout nguyên phát và Gout thứ phát.

  1. Gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gene và mang tính gia đình rõ rệt. Đây là nguyên nhân chủ yếu của bệnh.
  2. Gout thứ phát – là tình trạng tăng acid uric thứ phát do các nguyên nhân khác nhau như:
  • Tăng phân hủy purine đường ngoại sinh do ăn nhiều thức ăn có nhiều purine (thịt, phủ tạng động vật, cá, hải sản).
  • Tăng thoái hóa purine theo đường nội sinh do các tế bào trong cơ thể bị phá hủy gặp trong các bệnh máu ác tính (leukemia, lymphoma), đa hồng cầu, tán huyết, hóa trị liệu trong điều trị ung thư, hoặc sau khi dùng một số thuốc như salicylates liều thấp (dưới 2g/ngày), lợi tiểu, ethanol, pyrazinamide, ethambutol, nicotinamide, cyclosporine.
  • Giảm thải acid uric qua thận trong các bệnh lý thận như viêm cầu thận mạn, suy thận mạn.

DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH GOUT

Đau do bệnh Gout hầu hết là cấp tính, xảy ra một cách đột ngột, thường vào ban đêm, không có triệu chứng báo trước, gồm:

Đau khớp dữ dội: bệnh Gout thường ảnh hưởng đến những khớp lớn trên ngón chân cái, nhưng cũng có thể ở khớp bàn chân, mắt cá chân, gối, bàn tay, cổ tay,… Cơn đau điển hình có thể kéo dài 5 – 10 ngày rồi ngưng. Khó chịu sẽ giảm dần dần sau 1 – 2 tuần, các khớp có vẻ không có bất thường gì.

Viêm đỏ: các khớp bị sưng đỏ và đau.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH GOUT

Bệnh này do nồng độ acid uric trong máu tăng quá cao. Acid uric là một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của purine. Chất này có thể tìm thấy trong tự nhiên từ một số loại thực phẩm – tạng động vật như gan, óc, thận, lách, và cá như cá trích, cá thu. Purine cũng có trong tất cả các loại thịt, cá và gia cầm.

Thông thường thì acid uric bị phân hủy trong máu và được thải theo nước tiểu ra ngoài qua thận. Nhưng đôi khi cơ thể bạn tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu quá ít. Hậu quả là aicd uric trong máu tăng lên, tích lũy dần dần và lắng đọng thành những tinh thể sắc nhọn hình kim tại các khớp hoặc các bao quanh khớp gây ra triệu chứng đau đớn, viêm sưng khớp.

Một số tình trạng khác, gọi là giả Gout, cũng có tình trạng lắng đọng tinh thể ở khớp nhưng không phải tinh thể acid uric mà là tinh thể calcium pyrophosphate dehydrate. Bệnh giả Gout cũng có thể gây đau đón ngón chân cái tương tự Gout nhưng thường thì ở các khớp lớn hơn như gối, cổ tay hoặc mắt cá chân.

NHỮNG AI DỄ BỊ GOUT?

Theo thống kê, tỉ lệ mắc bệnh là 0.3% dân số người lớn, nghĩa là cứ 330 người lớn thì có một người mắc bệnh Gout. Bệnh thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp, dân gian thường gọi là tốt tướng. Phụ nữ rất ít bị bệnh Gout, nếu bị thường là ở nhóm tuổi trên 50.

Thường nhất là bắt đầu vào cuối tuổi 30, đầu 40 của cuộc đời, với những người có cuộc sống sung túc, dư thừa dinh dưỡng. Bệnh Gout là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, bệnh nhân Gout thường   thừa cân, hay mắc thêm một hoặc nhiều bệnh như: xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa mỡ, tiểu đường, rối loạn lipid máu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não,… Nói cách khác, các bệnh nhân bị các bệnh nói trên rất dễ bị bệnh Gout.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Những yếu tố hay hoàn cảnh sau có thể làm tăng acid uric trong máu cũng như tăng nguy cơ bệnh Gout:

Lối sống: thường nhất là uống nhiều rượu bia. Uống nhiều có nghĩa là hơn 2 cốc ở nam và 1 cốc ở nữ mỗi ngày. Nếu thể trọng tăng cao hơn cân nặng lý tưởng 15kg cũng tăng nguy cơ mắc bệnh Gout.

Một số bệnh lý và thuốc: một số bệnh lý và thuốc điều trị cũng có thể làm bạn tăng nguy cơ bị bệnh Gout. Các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, mỡ trong máu cao, hẹp lòng động mạch (do xơ vữa động mạch), phẫu thuật, các bệnh lý và tổn thương nặng, đột ngột, ít vận động,… Một số thuốc như lợi tiểu thiazide (một loại thuốc điều trị tăng huyết áp bằng cách làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể), aspirin liều thấp và cyclosporine (một loại thuốc sử dụng để chống thải ghép cho những người được ghép mô) cũng làm tăng acid uric máu. Hóa trị liệu trong một số bệnh như ung thư làm hủy diệt tế bào và phóng thích một lượng lớn purine vào máu.

Gene di truyền: một phần tư số bệnh nhân bị Gout có tiền sử gia đình về bệnh này.

Tuổi và giới: nam giới có tần suất bệnh Gout cao hơn nữ. Phụ nữ có nồng độ acid uric máu thường thấp hơn nam, nhưng đến tuổi sau mãn kinh lại tăng lên. Nam thường bị bệnh Gout trong khoảng 30 – 50 tuổi, còn nữ từ 50 – 70.

BIẾN CHỨNG

Một số bệnh nhân Gout tiến triển đến viêm khớp mãn tính, thường có sự thay đổi màu do lắng đọng các tinh thể dưới da gọi là dạn urate (tophi). Một số ít có thể bị sỏi thận.

Phương Pháp Điều Trị Bệnh Gout

Có 3 loại thuốc điều trị bệnh Gout. Đầu tiên, thuốc giảm đau như acetaminophen (paracetamol) hoặc những thuốc giảm đau mạnh hơn được dùng. Thứ hai, thuốc kháng viêm như NSAIDS, colchicine và corticosteroids được dùng để giảm viêm. Cuối cùng, thuốc làm phá vỡ sự chuyển hóa gây tăng acid uric. Điều này có nghĩa là điều trị sao cho giảm acid uric trong máu.

  • NSAIDS như indomethacin (Indocin) và naproxen (Naprosyn) là thuốc kháng viêm có hiệu quả trong Gout cấp. Những thuốc này được giảm liều sau khi giải quyết viêm khớp. Tác dụng phụ bao gồm khó chịu bao tử, loét và cả xuất huyết đường tiêu hóa. Những bệnh nhân có tiền sử dị ứng với aspirin hoặc polyp mũi nên tránh dùng thuốc NSAIDS vì sẽ có nguy cơ phản ứng phản vệ.
  • Colchicine được dùng trong bệnh Gout, thường bằng đường uống nhưng cũng có thể theo đường tĩnh mạch. Thuốc uống dùng cho mỗi một đến hai giờ cho đến khi cải thiện được triệu chứng hoặc bệnh nhân có tác dụng phụ như tiêu chảy nặng. Những tác dụng phụ thường thấy khác của colchicine là buồn nôn và ói.
  • Corticosteroids như prednisone là thuốc kháng viêm mạnh được dùng trong thời gian ngắn đối với bệnh Gout. Có thể cho trực tiếp bằng đường uống hoặc chích vào khớp viêm. Cũng có thể dùng cho những bệnh nhân có vấn đề về thận, gan hay đường tiêu hóa. Không nên sử dụng corticosteroids lâu dài vì nó gây ra tác dụng phụ trầm trọng.
  • Cùng với thuốc điều trị những cơn Gout cấp tính thì những thuốc khác được dùng trong một thời kỳ dài để giảm mức acid uric. Hạ mức acid uric trong máu là giảm nguy cơ Gout tái phát, sỏi thận, bệnh thận cũng như giải quyết sự lắng đọng thành tophi. Thuốc làm thấp acid uric trong máu bằng cách hoặc làm tăng bài tiết nó qua thận hoặc làm giảm tạo thành acid uric từ purine trong thức ăn. Vì một số bệnh nhân có acid uric trong máu tăng nhưng không phát triển những cơn Gout hoặc sỏi thận, vì thế có điều trị kéo dài với thuốc hạ thấp acid uric hay không phải tùy theo từng bệnh nhân cụ thể.
  • Probenecid (Benemid) và sulfinpyrazone (Anturane) là thuốc thường được dùng để giảm acid uric bằng cách tăng thải acid uric qua thận. Trong một số trường hợp hiếm thì thuốc này có thể gây sỏi thận vì thế những bệnh nhân có tiền sử bị sỏi thận nên tránh dùng. Khi uống thuốc này nên uống thêm nhiều nước nhằm giúp thoát nhanh acid uric ra khỏi đường niệu, tránh hình thành sỏi.
  • Allopurinol (Zyloprim) hạ thấp acid uric trong máu bằng cách ngăn hình thành acid uric. Nó ngăn chặn việc biến đổi purine trong thức ăn thành acid uric. Những thuốc này nên cẩn thận khi dùng cho những bệnh nhân có chức năng thận kém. Cũng như có nguy cơ phát triển phản ứng phụ như mẩn đỏ và tổn thương gan.
  • Những thuốc hạ thấp acid uric như Allopurinol (Zyloprim) tránh dùng cho những bệnh nhân đang có cơn Gout cấp (trừ khi họ đang dùng nó rồi), vì người ta chưa biết tại sao khi dùng thuốc này trong cơn cấp thì làm tình trạng viêm khớp trở nên tệ hơn. Tuy nhiên, những thuốc làm hạ acid uric trong máu thường dùng lúc tình trạng viêm khớp cấp đã được giải quyết. Còn nếu bệnh nhân đang dùng thuốc này rồi thì họ nên được duy trì ở liều đang dùng trong suốt thời gian có cơn Gout cấp. Một số trường hợp bệnh nhân tăng liều thuốc hạ thấp acid uric có thể thúc đẩy cơn Gout cấp. Một số bệnh nhân giảm liều colchicine có thể ngăn ngừa cơn Gout cấp.
  • Những cách làm tại nhà giúp giảm triệu chứng của cơn Gout cấp bao gồm nghỉ ngơi, nâng cao chi có khớp bị viêm. Chườm đá có thể giúp giảm đau và giảm viêm. Bệnh nhân nên tránh dùng những thuốc có chứa aspirin vì chúng ngăn ngừa bài tiết acid uric.

Phòng ngừa và chăm sóc bản thân khi bị Gout

Hiện chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự khởi phát và tái phát của các cơn Gout. Bác sĩ có thể cho dùng một số loại thuốc giúp ngăn ngừa hoặc giảm độ nặng của các cơn tái phát sau này. Các thuốc này gồm có Allopurinol (Zyloprim, Aloprim) và probenecid (Benemid), dùng hàng ngày giúp giảm nồng độ  và tốc độ sản xuất acid uric. Việc duy trì nồng độ acid uric ổn định ở giới hạn bình thường là cách ngăn ngừa bệnh Gout lâu dài và hiệu quả nhất.

Thay đổi lối sống không thể điều trị bệnh Gout, nhưng rất hữu ích để hỗ trợ điều trị. Các biện pháp sau giúp giảm bệnh:

Giảm béo: duy trì cân nặng hợp lý bằng cách giảm cân từ từ giúp giảm nồng độ acid uric máu, đồng thời giảm bớt sự chịu đựng sức nặng của các khớp. Tuy nhiên không nên nhịn đói để giảm cân nhanh vì như vậy lại càng làm tăng acid uric máu.

Tránh ăn quá nhiều đạm động vật: đây là nguồn chứa nhiều purine. Các thực phẩm chứa nhiều purine như tạng động vật (gan, thận, óc, lách), cá trích, cá thu,… các loại thịt, cá, gia cầm chứa ít purine hơn.

Giới hạn hoặc tránh rượu bia: uống quá nhiều rượu bia làm giảm bài tiết acid uric. Giới hạn dưới 2 cốc mỗi ngày nếu là nam hoặc một cốc nếu là nữ. Người bị bệnh Gout tốt nhất nên tránh hoàn toàn rượu bia.

Ăn, uống nhiều nước, chất lỏng. Dịch làm pha loãng nồng độ acid uric trong máu.

Bình luận

comments

Chia sẻ lên mạng xã hội

Giới thiệu tác giả

Sức khỏe bình đẳng với mọi người. Vì sao? Xem thêm tại đây tại đây : http://www.khoelavang.com/gioi-thieu/

Leave A Reply